Đây là vấn đề cốt lõi cần được giải quyết của việc chuyển đổi sang môi trường Agile.

Push system (hệ thống đẩy) là mô thức quản lý phổ biến hiện nay, sử dụng một quy trình được đinh nghĩa trước cùng các vai trò và mô tả công việc tương ứng. Mọi công việc được chỉ định tới một thành viên cụ thể, quy định từng mức trách nhiệm và khả năng quyết định. Trong một hệ thống phân cấp, mọi công việc đều:

  • cần phối hợp và báo cáo cho người quản lý trực tiếp;
  • thực hiện bởi người ở mức thấp hơn trong phân cấp quản lý.

Thông qua việc định nghĩa rõ ràng sự phân cấp trong mô hình tổ chức, mọi công việc đều được định nghĩa cụ thể về mục tiêu, thời điểm hoàn thành, tiến độ… giúp người quản lý thực hiện việc push công việc xuống những nhân viên như commandcontrol được những gì đang xảy ra; chất lượng công việc phụ thuộc lớn vào tài năng của những nhà quản lý. Push system dựa trên giả định rằng những nhân sự không có động lực làm việc và luôn cần được giao việc và giám sát để hoàn thành.

Cuối thế kỷ 20, Peter Drucker lần đầu nói về thời đại của những lao động tri thức, những công việc trở nên phức tạp hơn, và cần nhiều kỹ năng để hoàn thành hơn. Hệ quả là sự bất hợp lý trong việc phân chia và giao từng công việc cụ thể tới một cá nhân; mô hình làm việc nhóm với những thành viên có đầy đủ kỹ năng trở nên thắng thế. Và bước phát triển tiếp theo là nhóm tự quản.

Pull system (hệ thống kéo) là mô thức quản lý được điều hướng bởi giá trị và kết quả; những công việc được xây dựng thành một danh sách cần hoàn thành theo một thứ tự nhất định và không được giao cho một thành viên cụ thể; những thành viên trong nhóm sẽ chủ động thực hiện pull công việc và thực hiện. Pull system được xây dựng trên giả định rằng những nhân sự luôn có động lực làm việc và không cần nhiều sự quản lý.

Hiểu được sự khác biệt giữa push systempull system là vấn đề lớn nhất với những tổ chức muốn chuyển đổi sang môi trường Agile. Điều cốt lõi nằm ở:

Cách thức định nghĩa quy trình. Trong push system, quy trình được định nghĩa trước, và thông thường được định nghĩa bởi những người không trực tiếp thực hiện công việc cụ thể, và đặt trọng tâm vào giá trị quản lý. Bộ phận quản lý quy trình định nghĩa ra cách thức thực hiện một chiến lược marketing, những bước thực hiện, tài liệu trao đổi giữa các phòng ban từ việc thiết lập chi phí đến thiết kế hình ảnh, nội dung… song chính họ lại có rất ít kiến thức về cách tạo ra một chiến lược marketing hiệu quả. Quy trình được định nghĩa chủ yếu hướng tới việc giúp những nhà quản lý có cái nhìn toàn cảnh và kiểm soát công việc thông qua chỉ định công việc tới từng cá nhân cụ thể; cho mọi dự án. Nhưng sự cứng ngắc của những quy trình được định nghĩa sẵn làm hạn chế sự sáng tạo, tạo ra rào cản làm chậm quá trình tạo ra giá trị thực sự. Push system và Agile hướng tới thực nghiệm. Thông qua việc thực hành và đo đạc hiệu quả, nhóm tự tổ chức biết cách thực hiện nào là phù hợp cho nhóm trong từng hoàn cảnh cụ thể, và hình thành quy trình riêng cho nhóm; từ đó loại bỏ rào cản và tối ưu giá trị tạo ra.

Trách nhiệm hoàn thành công việc. Điều khiến mọi người phân vân là trách nhiệm cá nhân trong pull system: nếu một công việc không được chỉ định cho một cá nhân cụ thể, điều gì khiến công việc đó được hoàn thành? Đây là một câu hỏi hợp lý; song suy nghĩ theo một cách khác, nếu mọi công việc được chỉ định theo cá nhân cùng KPI tương ứng, những cá nhân này có thể vì tập trung nỗi lực hoàn thành một phần việc cụ thể mà bỏ qua việc cộng tác trong bức tranh toàn cảnh và tạo ra giá trị lớn hơn. Một tester được giao nhiệm vụ cụ thể sẽ cố gắng tìm ra thật nhiều bug thay vì cộng tác với developer trong nhóm nhằm tìm cách hạn chế chúng. Pull system và Agile hướng trọng tâm vào xây dựng nhóm có động lực làm việc – tập trung vào con người. Nhưng đó là cách làm phù hợp với thị trường lao động tri thức ngày nay khi nhu cầu người lao động đi dần lên phía đỉnh của tháp Maslow.

Chất lượng công việc. Công việc được nâng cao khi người thực hiện hiểu được giá trị và có cái nhìn thổng thể. Push system thường chỉ tập trung vào từng công việc cụ thể và bỏ qua góc nhìn về toàn cảnh hệ thống và giá trị, mức độ quan trọng cụ thể của một thành phần công việc tạo ra giá trị chung. Pull system cung cấp góc nhìn toàn cảnh, những giá trị đóng góp của từng công việc cụ thể tạo thành giá trị chung, hỗ trợ việc ra quyết định chính xác hơn. Cách vận hành kiểu thực nghiệm của pull system cũng giúp nhóm tìm ra quy trình cho chính mình, giúp loại bỏ trở ngại, tăng năng suất và chất lượng công việc.

Về cơ bản, push systempull system khác nhau về hệ quy chiếu đo lường và đánh giá. Push system đo lường và đánh giá số lượng và khối lượng những công việc được hoàn thành; song cả số lượng và khối lượng công việc được hoàn thành không đại diện cho giá trị được tạo ra. Ngược lại, pull system đo lường và đánh gía dựa trên giá trị được tạo ra.

1,080 total views, no views today

Đặt mục tiêu đúng là một việc rất quan trọng bởi mục tiêu định hướng công việc chúng ta làm. Có lẽ tôi không cần phải nói nhiều hơn về điều này. Đặt mục tiêu một cách khoa học quan trọng hơn rất nhiều. Theo nghiên cứu của ĐH Scranton, chỉ 8% những người được khảo sát đạt được mục tiêu trong năm 2014 của mình, đa phần thất bại do không đặt được mục tiêu một cách khoa học.

Một phương pháp đặt mục tiêu khoa học được giới thiệu từ những năm 1980 là SMART, nhưng hiện nay cũng không hẳn nhiều người biết hoặc áp dụng thành công. Tôi chỉ giới thiệu sơ qua về phương pháp này, bởi bạn có thể tìm thấy rất nhiều bài học về SMART thông qua Internet.

Phương pháp đặt mục tiêu SMART dựa trên 5 yếu tố tạo nên từ này: S.M.A.R.T = Specific, Measurable, Achievable, Relevant, Time-Bound.

  • Specific (Cụ thể): Nếu mục tiêu mông lung, làm sao chúng ta biết phải làm gì? WHAT.
  • Measurable (Đo được): Nếu mục tiêu không đo được, làm sao chúng ta biết khi nào mình đã đạt được? WHERE.
  • Achievable (Khả thi): Nếu mục tiêu không khả thi, làm sao chúng ta thực hiện? HOW.
  • Relevant (Liên quan): Nếu mục tiêu không có sự liên quan (tới cuộc sống, những mục tiêu khác), chúng ta đạt mục tiêu có ý nghĩa gì? WHY.
  • Time-Bound (Có thời hạn): Nếu mục tiêu không giới hạn thời gian, khi nào nó được đánh giá? WHEN.

Ví dụ, mục tiêu “năm nay kiếm được nhiều tiền” không khoa học. Thế nào là nhiều (measurable)? 1 tỷ USD là nhiều (achievable)? Tiền để làm gì (relevant)?

Một mục tiêu tốt hơn là “để phục vụ cho công việc (relevant), năm nay (time-bound) kiếm được thêm 50 triệu (measurable) để mua laptop mới (specific) nhờ việc bán hàng online (achievable)”. Yếu tố achievable là khó nhất, nếu chúng ta đã có kỹ năng bán hàng online tốt, đã có vốn thì mục tiêu này khả thi. Ngược lại, mục tiêu không khả thi.

Gần đây, một phát triển mới từ phương pháp S.M.A.R.T là S.M.A.R.T.E.R, được thêm vào 2 yếu tố nữa E.R. Có nhiều biến thể của phương pháp này, nhưng phiên bản tôi thấy thích nhất là E.R = Evaluate, Re-Adjust.

  • Evaluate (Đánh giá): Một mục tiêu khoa học cần có trong đó khả năng đánh giá được qua từng giai đoạn hoặc tiến trình đạt được mục tiêu.
  • Re-Adjust (Điều chỉnh): Trong quá trình thực hiện, nếu mục tiêu đã lỗi thời hoặc cách tiếp cận của chúng ta không còn đúng, mục tiêu ngay lập tức được điều chỉnh lại cho phù hợp với tình hình hiện tại.

Ví dụ, với mục tiêu chúng ta đã có theo S.M.A.R.T ở trên, có thể bổ xung như sau “để phục vụ cho công việc (relevant), năm nay (time-bound) kiếm được thêm 50 triệu (measurable) theo từng tháng (evaluate) để mua laptop mới (specific) nhờ việc bán hàng online (achievable)”. Như vậy, cứ sau mỗi tháng, chúng ta lại đánh giá lại quá trình đạt được mục tiêu. Nếu đến tháng 5, chúng ta chỉ kiếm được 10 triệu thì cần phải điều chỉnh lại mục tiêu hoặc cách làm. Cũng có thể, đến tháng 5 chúng ta vẫn chưa phải điều chỉnh gì với mục tiêu là “để phục vụ cho công việc (relevant), năm nay (time-bound) kiếm được thêm 50 triệu (measurable), tập trung vào tháng 6,7 (Euro 2016) để mua laptop mới (specific) nhờ việc bán hàng online (achievable)”. Cũng có thể, tháng 4, chúng ta trúng xổ số 100 triệu, thì mục tiêu cũng đã lỗi thời, có thể nên loại bỏ (mục tiêu “kiếm thêm 50 triệu mua laptop” đã hoàn thành, nhưng nếu chúng ta đặt mục tiêu “kiếm thêm 50 triệu mua laptop và thử sức trong lĩnh vực kinh doanh” thì việc trúng xổ số có rất ít liên quan để mục tiêu này bị loại bỏ).

Tóm lại S.M.A.R.T.E.R = Specific, Measurable, Achievable, Relevant, Time-Bound, Evaluate, Re-Adjust

Xin nói thêm lý do khiến tôi thích phiên bản S.M.A.R.T.E.R này vì nó rất “agile”: chúng ta luôn phải đánh giá và điều chỉnh liên tục để có cách làm phù hợp nhất, nhằm hoàn thành phần công việc có giá trị nhất giúp đạt được mục tiêu có ý nghĩa nhất. Dù vậy, có thể bạn cho rằng yếu tố Evaluate và Re-Adjust gắn với quá trình thực hiện mục tiêu, không gắn với việc xây dựng mục tiêu ban đầu. Nhưng mục tiêu đặt ra là để đạt được và có ý nghĩa, đâu phải chỉ để “đặt ra”, phải không? Hơn nữa, qua ví dụ trên bạn cũng thấy yếu tố Evaluate hoàn toàn có thể được đặt ra ngay trong lúc xây dựng mục tiêu.

Tuy vậy, vẫn còn nhiều phương pháp S.M.A.R.T.E.R khác có thể phù hợp hơn với bạn. Bạn có thể tham khảo thêm tại:

https://www.wanderlustworker.com/setting-s-m-a-r-t-e-r-goals-7-steps-to-achieving-any-goal/

1,136 total views, no views today

Khi cá nhân muốn cải thiện sự thành công, chúng ta thường có xu hướng mở rộng tập kỹ năng cũng như làm thêm việc. Doanh nghiệp cũng vậy, để cải thiện sự thành công, họ thường có xu hướng mở rộng lĩnh vực kinh doanh. “Sự thành công” ở đây đươc đo bằng thu nhập của cá nhân và doanh thu của tổ chức. Điều này khá dễ hiểu bởi chúng ta kỳ vọng “trứng sẽ không nằm trong một giỏ”, doanh thu sẽ được tăng lên khi thị trường tăng lên bởi việc kinh doanh nhiều lĩnh vực. Thời điểm chiến lược này được đưa ra thường là khi chúng ta nhận thấy việc tăng thêm thu nhập, doanh thu từ lĩnh vực hiện tại trở nên khó khăn hơn bởi chúng ta không còn duy trì được lợi thế cạnh tranh hoặc thị trường trở nên bão hoà hoặc chúng ta có “những đồng tiền rảnh rỗi”. Một ví dụ dễ hiểu là, khi một lập trình viên nhận mức lương $2000 / tháng, anh ta sẽ nghĩ tới việc dành số tiền tiết kiệm được cho việc mở 1 cửa hàng thời trang hay 1 hàng cafe; một doanh nghiệp kinh doanh gỗ sau khi một vài năm không tăng trưởng về mặt doanh thu, họ nghĩ mình nên mở rộng việc kinh doanh bất động sản.

Dù một cá nhân làm thêm một công việc nằm ngoài tập kỹ năng chính của anh ta hay một doanh nghiệp mở rộng lĩnh vực kinh doanh, họ (anh chàng lập trình viên và CEO công ty kinh doanh gỗ) đều có một điểm chung, là họ đều có thêm 1 việc nữa cần hoàn thành. Và liệu họ có thực sự cần công việc này cho mục đích (cải thiện thành công) của mình? Không chắc chắn.

Bởi thật tiếc việc “thị trường đã bão hoà” thường là một nhận định không chính xác. Đúng hơn là “thị phần đã tới giới hạn với khả năng cạnh tranh hiện có” hoặc “thị trường đã bão hoà với khả năng sáng tạo hiện có”. Vì vậy, thay vì quyết định rằng “cần thêm một công việc nữa”, chúng ta hoàn toàn có thể dành nguồn lực đó (hoặc thậm chí, “cần bỏ thêm 1 công việc nữa” để có thêm nguồn lực) để cải thiện khả năng cạnh tranh hiện có. Bởi việc mở rộng sang một lĩnh vực khác ít liên quan sẽ làm chúng ta đánh mất năng lực cốt lõi và lợi thế cạnh tranh hiện có và rồi cũng sẽ lại loanh quanh với những vấn đề về mở rộng thị trường. Và vòng luẩn quẩn sẽ không có hồi kết: không mở rộng được thị phần / thị trường, mở rộng lĩnh vực kinh doanh…

Một lập trình viên, thay vì nghĩ rằng “cần thêm một việc nữa” và mở một cửa hàng thời trang – lĩnh vực mà anh ta hoàn toàn không có nhiều kiến thức và kỹ năng về kinh doanh – có thể lựa chọn việc dành thời gian, tiền bạc đó cho những khoá đào tạo nhằm nâng cao khả năng hiện có để có mức thu nhập lớn hơn. Tất nhiên nếu anh ta mở cửa hàng thời trang chỉ vì mục đích tăng thêm thu nhập, hoàn toàn không phải bởi anh ta đam mê kinh doanh. Hoặc anh ta nên kiếm thêm tiền từ việc mở một vài lớp học lập trình hay tiếng Anh, nơi anh ta có lợi thế cạnh tranh thực sự bởi những gì mình đang có.

Một doanh nghiệp kinh doanh gỗ, thay vì nghĩ rằng “cần thêm một việc nữa” và mở thêm lĩnh vực kinh doanh bất động sản, có thể cắt giảm bộ phận giao vận hiện có để dành nguồn lực phát triển những sản phẩm gỗ tốt hơn. Hoặc họ nên mở rộng sang việc sản xuất giấy, nơi họ có lợi thế cạnh tranh bởi nguồn cung ứng sẵn có.

Facebook, sau khi đạt ngưỡng 1 tỷ người sử dụng, họ nghĩ rằng thị trường đã bão hoà (1 tỷ người sử dụng là một con số quá lớn để tin điều đó là đúng), họ mở rộng bởi hàng loạt sản phẩm mới, phần nhiều trong số đó được khai tử chỉ sau 1 tháng ra mắt. Hiện tại Facebook có 1,6 tỷ người sử dụng. Giờ đây, tôi tin rằng thị trường sẽ chỉ thực sự bão hoà khi Facebook có 7 tỷ người sử dụng.

Sự thành công của Apple ngày nay có công lớn của Steve Jobs, vì ông đã thẳng tay loại bỏ hàng trăm dự án và sản phẩm mà Apple đang có khi tiếp quản Apple vào năm 2005. Nếu nhình lại, chúng ta sẽ thấy trong danh sách đó có nhiều những dự án rất tiềm năng, thậm chí có lợi nhuận không đến nỗi nào tại thời điểm đó. Nhưng nếu chúng không được đóng lại, Apple sẽ có hàng trăm sản phẩm “làng nhàng” và không có một iPod hay iPhone cực kỳ thành công. Bởi Steve Jobs dù có tài giỏi cũng chỉ có 24 giờ một ngày và chỉ ông hiểu được giới hạn của chính mình; nếu ông góp mặt vào 5 sản phẩm, đó sẽ là 5 sản phẩm xuất sắc; nếu ông dành thời gian cho 50 sản phẩm, đó sẽ là 50 sản phẩm trung bình. Apple giờ đây có quá nhiều tiền mặt, và việc mở rộng lĩnh vực kinh doanh của họ đơn giản hơn bao giờ hết. Nhưng Tim Cook chắc hiểu rằng thêm 1 chiếc ô tô đồng nghĩa với việc iPhone sẽ không còn được chăm chút ở mức cần thiết. Tim Cook đã từng thử nghiệm “iPhone cho người có thu nhập thấp hơn” bằng phiên bản iPhone 5C và dù doanh số không đến nỗi tệ thì dự án đó cũng nên được đóng lại, thay thế bằng việc bán những chiếc iPhone phiên bản cũ với giá “mềm” hơn – cách mà Apple không cần bỏ thêm quá nhiều nguồn lực vẫn thu được hệ quả tương tự.

Satya Nadella, dù chịu mất hàng tỷ đô la Microsoft đã chi ra khi mua lại mảng điện thoại thông minh của Nokia, cũng biết rằng để khiến lĩnh vực đó sinh lời hàng triệu đô la mỗi năm là không khó, nhưng những nguồn lực đó có thể khiến ông mất nhiều tỷ đô la trong lĩnh vực điện toán đám mây. Người ta dễ dàng chỉ trích Steve Ballmer vì để Microsoft thất thế trong mảng di động dù đã đi trước Apple cả chục năm, nhưng lại rất khó để trả lời câu hỏi “nếu Steve Ballmer dồn nguồn lực vào mảng di động, liệu Microsoft có duy trì sự ổn định trong tăng trưởng và thu về hàng chục tỷ đô la từ mảng điện toán đám mây như bây giờ?”. Và nếu nghĩ khác, câu hỏi “nếu Steve Ballmer dũng cảm khai tử mảng di động, tập trung toàn bộ nguồn lực cho mảng điện toán đám mây, giờ đây Microsoft có thể thu về hàng trăm tỷ đô la từ mảng này?” còn khó trả lời hơn nhiều. Ít nhất đấy là cách Satya Nadella đang điều hành, thay vì cạnh tranh với iOS, Microsoft sống trên đó với hàng tá ứng dụng của mình như Outlook, Sunrise,…

Bởi vậy, bớt đi một công việc cũng quan trọng như làm thêm một công việc. Lợi ích không chỉ sinh ra khi làm thêm một công việc, lợi ích sinh có thể ra khi chúng ta quyết định bỏ đi một công việc. Việc xoá đi một dòng code hay loại bỏ một chức năng cũng có thể mang lại lợi ích như việc viết thêm một dòng code hay thêm vào một chức năng mới; bởi mã nguồn sẽ dễ đọc hơn, và người sử dụng sẽ thấy dễ dàng hơn. Sparrow, phần mềm ưa thích của tôi, từng một thời khuynh đảo thị trường (và được Google mua lại) vì đã làm rất tốt chức năng của một email client và chỉ như vậy, không tích hợp contacts hay calendar như những email client khác, là điển hình cho việc “làm xuất sắc một chức năng đúng”. Việc thêm một dự án có thể khiến doanh nghiệp có giá trị hơn về mặt hoành tráng khi có rất nhiều dự án, nhưng cũng khiến doanh nghiệp mất giá trị hơn trong việc kết nối những thành viên trong tổ chức và khiến các đội dự án chịu sự “lạnh nhạt” hơn từ những người quản lý. Dù rằng một số dự án có thể mang lại nhiều giá trị cho tương lai, nhưng nếu không tập trung vào những thứ hiện có, liệu tương lai có đến? Bởi hàng ngày chúng ta có quá nhiều lựa chọn, rất nhiều trong số chúng đều có tiềm năng lớn nên quyết định “thêm việc”, “giữ nguyên” hay “bớt việc” là khó khăn hơn rất nhiều. Đó thực sự là những cám dỗ và cạm bẫy. Tất nhiên, việc chuẩn bị cho tương lai là luôn cần thiết với mỗi cá nhân hay tổ chức, nhưng chúng ta cần nhận định chính xác việc gì “phải làm”, “nên làm” bởi nếu tất cả các ý tưởng đều trở thành “phải làm” đồng nghĩa với không một công việc nào trong số chúng “được hoàn thành tốt”. Do đó, mỗi cá nhân hay tổ chức cụ thể có những quyết định rất khác nhau dựa trên tình hình hiện tại của chính mình, mà chỉ họ mới thực sự hiểu capacity của mình. Bởi nghĩ tới “do the thing right” chỉ tới sau khi chúng ta quyết định được đó có phải là “right thing” hay không. Một việc không phù hợp nên được loại bỏ (hoặc trì hoãn) ngay cả khi nó đang được hoàn thành rất tốt. Chẳng phải “limit works in progress” là một trong những nguyên lý quan trọng của Lean mindset đó sao?

Có thêm một việc đã vốn không dễ dàng. Quyết định thực hiện còn khó khăn hơn. Bỏ đi một việc, ngay cả khi việc đó đang hữu ích, là khó nhất.

Hãy bớt đi nhiều nhất những lựa chọn, khi chỉ còn số công việc tối thiểu, chúng ta sẽ biết cách hoàn thành chúng ở mức độ cao nhất ngay cả trong thời gian rảnh rỗi.

909 total views, no views today

Yes, it’s me – Mr. Coding Tools.

I’m a fan of whatever makes our lives better. Most of them are the tools, right? So someone calls me “Mr. Tools” but it’s not true,  I don’t just use the tools. I’m a Mr. Coding Tools.

What makes a developer different? He can make the amazing tools for on-demand needs of his life, usually are once-use tools. When cannot find an appropriate software for reducing manual work, a rich man can hire people for building it, a normal man needs get back to his boring things in the hopeless, but a normal developer can do it himself. He always feel excited by doing in a smarter way although it sometimes takes more times than doing manually 🙂

When I was 17, the vice president of my mother’s school asked me “I want to show up some texts and photos on the projector board by a cool way in an important meeting next week. They should run from left to right, top to down etc. I have seen it when visiting a conference but I don’t know how to do it on my computer”. So easy with Power Point? Right. But what should you do if you don’t know Power Point? In fact, I had never known Power Point was existing that time. I had my first computer when I was 15 but just used it for programming to solve some algorithm problems or editing with Word to earn more money sometimes. I hadn’t known Internet as well because of its high cost. Borland Pascal, Delphi, Word, NC and FIFA were only my 3rd party softwares I had and known that time – so different when you guys were 17, far ahead from me.

“Yes, you can. Please give me the texts and photos you want to show up and I will get back tomorrow”, I said. What did I do? I wrote a Winform application with some areas for texts and photos, some timer triggers to scroll them in some directions. It was so easy like eating an apple.

“It looks good but could I change the texts and photos myself?”, he said when I got back. “Of course, let do it tomorrow”. And I changed my code for reading texts from files, get a photos from specific folder by their ordered names.

“Yes, it works but could I change the position of these texts and choose the effect myself?”. “Sure, see you tomorrow”. Then I went home, changed my text areas to placeholders and made their positions and sizes  more flexible.

“Super cool, we got it. I can prepare the content for the meeting next week now. How much should I pay?”. “Base on the success of your meeting. Give to my mother, I don’t care”. “Could I use it for the meeting next year?”. “Sure, or next month if you think it would help, otherwise drop it out”.

I believe Agile is in my mindset as long as I know building the software. Iteration, feedback, refactor, minimum viable product etc are so natural and come easily.

2 years later, I laughed out loud at the first time seeing Power Point, “OMG, I reinvented the wheel”. But I was proud of building the useful tool in my limited resource and knowledge. I came back, installed and trained the vice president to use Power Point but he wanted to keep using my tool as he had used it well 7 times for 2 years. Because this tool was enough for his needs and Power Point has too much features but didn’t have Vietnamese user-friendly UI. Simple but enough is better than tons of no-use add-on.

In my career, I has built a lot of tools for myself and see it as the best way to improve both my coding and customer-side thinking skills.

Some days ago, I created a backlog for my next 23 months and I’m thinking about creating a mobile app for tracking as unfortunately I didn’t find any right tool. Again, it maybe a one-use tool.

Sometimes, no tool is better but guru should do build tool.

51 total views, no views today

A story about my t-shirt.

About 2 years ago, I decided to make me as simple as possible by reducing my energy and time of thinking about the unimportant things. Then I started with my meals and clothes.

I eat whatever I can or I have in meal. Going to a buffet where having a lot of options, I just choose at most 3 foods at the first sight. And sometimes, I get only 1 food or decide to skip this meal if I cannot give my decision in 3 seconds.

I wear  whatever clothes I have with 1 shoes in whole year. “What are you doing? You don’t have your own style man”, I thought after a year. So, to keep it simple but having style myself, I replaced all my clothes by black ones. I ordered 10 1-style black t-shirts. I used to spend less than 1 second in the morning for choosing a t-shirt by stop thinking “Hmm, what colour, what kind of t-shirt does suit me today?”. It’s so simple, right? “But wait man, how do people think when you wear the same t-shirts day by day? You just have only 1 t-shirt and never change?” – yeah it’s so reasonable. Then I choose 10 texts and add it to my t-shirts as “perfect”, “never stop hacking”, “work hard”, etc as an inspired word for me in a day. So what’s happened? I need to choose a word in 10 whole-black t-shirts and it sometimes takes me 1 minute and of course, much more difficult than in different colours. Sounds crazy? Sure, it may come when you want to make change while it’s too simple enough. Then I stop choosing the text for a day, pick any t-shirt in the morning and less-than-1-second rule came back. And of course, black t-shirt or any other colour ones make me feel the same but whole my closet is in black now. I’m not fashionable as 1 year ago but I should stop changing as it too simple now. And have my own style? 🙂

“Everything should be made as simple as possible, but not simpler” – it’s totally true. Keep it as simple as possible but when you feel that it’s simple enough, don’t try to make it simpler as it maybe the trap of change.

Simplicity is the Ultimate Sophistication

Leonardo da Vinci

image14

31 total views, no views today